Posted on Leave a comment

Làng nghề dệt

Làng Nghề Dệt

Dọc theo dòng chảy của lịch sử văn hóa, vùng đất Hưng Yên mở rộng không chỉ nuôi dưỡng những tâm hồn đất Việt bằng hương sắc phù sa mà còn là nơi lưu giữ những đôi bàn tay tài hoa của nhiều thế hệ nghệ nhân. Giới mộ điệu thủ công mỹ nghệ từ xưa đến nay vẫn thường truyền tai nhau một câu nói đầy tự hào khái quát trọn vẹn tinh hoa dệt sợi của vùng đất này: “Chiếu Hới, lụa Mẹo, đũi Nam Cao”. Câu ca ấy như một tấm bản đồ di sản, dẫn lối người lữ khách tìm về ba cái nôi dệt lớn nhất, nơi những sợi cói, sợi tơ được chắt chiu để dệt nên danh tiếng một vùng đất trăm nghề.

1. LÀNG DỆT CHIẾU HỚI

Đầu tiên, nhắc đến câu nói trên là nhắc đến làng dệt chiếu Hới (làng Hải Triều), thuộc xã Long Hưng, tỉnh Hưng Yên. 

Được mệnh danh là “thủ phủ” chiếu dệt của cả miền Bắc, làng Hới mang một nét đặc trưng độc đáo là người dân dệt chiếu nhưng quanh làng không trồng cói, toàn bộ nguyên liệu phải thu mua từ các vùng cửa biển xa xôi về. Qua đôi bàn tay tài hoa, các nghệ nhân đã dệt nên những chiếc chiếu cài hoa, chiếu đậu, chiếu sợi xe mịn màng, trắng ngà và mang mùi thơm tự nhiên của cây cỏ. Chiếu Hới bền bỉ theo thời gian, dùng lâu chuyển sang màu vàng thẫm, nổi tiếng với đặc tính thoáng mát vào mùa hè và giữ ấm tốt vào mùa đông, từng là vật phẩm tiến vua và đi vào giai thoại lịch sử. 

2. LÀNG DỆT PHƯƠNG LA

Rời làng chiếu, xuôi theo câu ca ta sẽ đến với nét quý phái của làng dệt lụa sa tanh Phương La (thường gọi là làng Mẹo), thuộc xã Tiên La, tỉnh Hưng Yên.

Đây là ngôi làng nổi tiếng bởi sự trù phú và tư duy nhạy bén của người dân khi giữ vững ngọn lửa dệt tơ tằm, đũi và sa tanh cao cấp từ bao đời nay. Người Phương La rất sáng tạo, họ đã sớm đưa máy móc, mô tơ điện vào cải tiến những khung cửi thô sơ để nâng cao năng suất mà vẫn giữ trọn vẹn tinh túy của sản phẩm. Vải lụa và sa tanh nơi đây sở hữu đặc tính mềm mại, mướt mịn, bóng bẩy và cực kỳ bền màu, không chỉ chiếm lĩnh thị trường trong nước mà còn vươn tầm xuất khẩu ra thế giới. 

3. LÀNG DỆT ĐŨI NAM CAO

Mảnh ghép cuối cùng làm nên bộ ba tinh hoa chính là làng dệt đũi Nam Cao, thuộc xã Kiến Xương, tỉnh Hưng Yên.

Nghề dệt đũi tại đây có lịch sử hơn 400 năm tuổi và đã vinh dự được vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Điểm cốt lõi tạo nên giá trị của đũi Nam Cao là quy trình sản xuất hoàn toàn thủ công từ phần tơ tằm rút lõi. Từ khâu tháo kén, kéo đũi, quay sợi cho đến nhuộm màu bằng lá cây tự nhiên đều được thực hiện tỉ mỉ bằng tay. Chất liệu đũi Nam Cao mang vẻ đẹp mộc mạc với bề mặt hơi sần đặc trưng nhưng khi mặc lại vô cùng nhẹ nhàng, thoáng mát, hiện đang là nguyên liệu cao cấp rất được ưa chuộng trong các thiết kế thời trang quốc tế. 

“Chiếu Hới, lụa Mẹo, đũi Nam Cao”

Câu nói ngắn gọn nhưng chứa đựng cả một gia sản văn hóa đồ sộ. Ba làng nghề dệt lớn này không chỉ là sinh kế, mà đã trở thành những mạch ngầm văn hóa chảy mãi, minh chứng cho sự cần cù, khối óc sáng tạo và tấm lòng kiên cường giữ lửa nghề truyền thống của con người nơi đây.

Posted on Leave a comment

Làng nghề làm muối Thụy Hải

Làng nghề làm muối Thụy Hải

Xã Thụy Hải, tỉnh Hưng Yên

TINH HOA DI SẢN PHI VẬT THỂ

Lãnh đạo Sở VH-TT&DL tỉnh Thái Bình trao quyết định công nhận Nghề làm muối truyền thống của xã Thụy Hải là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia cho chính quyền và nhân dân địa phương (ảnh: Báo T.B).
Lãnh đạo Sở VH-TT&DL tỉnh Thái Bình trao quyết định công nhận Nghề làm muối truyền thống của xã Thụy Hải là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia cho chính quyền và nhân dân địa phương (ảnh: Báo T.B).

Làng muối Thụy Hải (xưa là làng Tam Đồng) thuộc xã Thụy Hải, tỉnh Hưng Yên từ lâu đã được ví như “cái nôi” của nghề muối vùng đồng bằng sông Hồng. Không chỉ là một sinh kế thuần túy, nghề làm muối tại đây đã vinh dự được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, khẳng định giá trị lịch sử và tinh hoa lao động lưu truyền qua nhiều thế kỷ.

LÀNG NGHỀ LÀM MUỐI 700 NĂM TUỔI

Nghề muối Thụy Hải có tuổi đời hàng trăm năm, gắn liền với công lao của vị Tổ nghề Bà chúa Muối (Nguyễn Thị Ngọc Anh) – một cung phi triều Trần. Hằng năm, cứ đến ngày lễ hội đền Bà Chúa Muối, người dân lại tổ chức trang trọng các nghi thức tế lễ để tưởng nhớ công ơn của bà.

Khác với phương pháp phơi nước biển trực tiếp của miền Trung hay miền Nam, diêm dân Thụy Hải áp dụng kỹ nghệ phơi cát vô cùng độc đáo để thích ứng với đặc thù độ mặn thấp của biển miền Bắc. Quy trình này đòi hỏi sự tỉ mỉ khi người dân phải xới đất, rải một lớp cát mịn rồi tưới đều nước biển lên để cái nắng gay gắt làm bốc hơi nước, giữ lại các tinh thể muối bám chặt vào từng hạt cát. Tiếp đó, phần cát khô muối này được thu gom lại và cho vào bể lọc, rồi đổ thêm nước biển vào hòa tan nhằm chắt lọc lấy “nước chạt” – loại nước muối có độ mặn đậm đặc cực cao. Cuối cùng, nước chạt được đưa lên các ô nề (sân phơi bằng gạch hoặc xi măng) để phơi cho đến cuối chiều, khi nước bốc hơi hoàn toàn và kết tinh thành những hạt muối trắng ngần, tinh khiết. 

Vào mùa làm muối (từ tháng 4 đến tháng 8 âm lịch), khắp các sân phơi lấp lánh như những tấm gương khổng lồ phản chiếu sắc trời. Nhờ quy trình lọc qua cát tỉ mỉ, muối Thụy Hải nổi tiếng mang vị mặn dịu, đậm đà nhưng không chát gắt, hậu vị ngọt và giàu hàm lượng vi khoáng tự nhiên mà hiếm nơi nào có được.

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN